Sự trở về của Ý và Chân Tâm Trí Huệ
Cái gì là biết mà không biết, không biết mà biế(?!)
Tâm không chỉ Tỉnh Lặng mà còn là Trí Huệ, tĩnh lặng là bản thể mà trí huệ là diệu dụng của Tâm.
Ta đã quen với không khí đến nỗi không còn biết đến nó, bởi nó là môi trường hô hấp duy nhất, cho đến khi ta nhắm mắt xuôi tay, cho đến khi cũng không còn cơ hội để biết đến Nó. Xem ra, ta không (cần) biết đến nó bởi Nó là duy nhất mà không thể có cái gì khác để thay thế hay lựa chọn trong cuộc sống: nó hiện diện như là không hiện diện...
Vũ trụ thế giới trọn vẹn và tuyệt đối là một "cái gì đó" duy nhất vì không còn so sánh, thấy biết, liên hệ... với bất kỳ cái nào nữa. Tâm trí huệ cũng vậy, không còn so sánh, nghĩa là cô đơn tuyệt đối, thì đó là vũ trụ vạn vật, hay Trí huệ Bát nhã. Phật Thích Ca nói: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn". Nếu còn có bất kỳ một liên hệ hay thấy biết thì đó không phải là Tâm duy nhất. Trí Huệ Bát Nhã là biết mà không biết, không biết mà biết!
Cô đơn với tất cả mọi liên hệ là nghệ thuật của sự nhất tâm. Nếu Tâm tĩnh lặng là sự cô đơn trong sự song hành cùng vạn vật, thì Tâm trí huệ là sự cô đơn trong sự đồng nhất cùng vạn vật.
Sự đồng nhất này đến từ sự cô đơn tuyệt đối, bởi khi còn có cái khác, còn so sánh với một "Vũ Trụ" hay Tâm nào khác, thì đó chưa phải là Vũ Trụ toàn thể hay Tâm duy nhất trong ta. Và vì là duy nhất, ví như là không khí hay hơi thở với cuộc sống, nên Nó có mà cũng như không có. Nghĩa là nếu còn có Tâm thì đó không phải là Tâm. Cho nên chỉ có vạn vật, hay Tâm trí huệ là vạn vật.
Trí huệ là thể hiện ra bên ngoài vạn vật của của nội tâm bên trong, nên Tâm Trí huệ là cái biết trên chính vạn vật.
Trong trạng thái cô đơn, không còn thấy người thấy cảnh, Ý được tập trung một cách hồn nhiên vào chiều sâu của thực tại, chỉ có tư tưởng mà không có vật, bởi đang là tỉnh lặng tỉnh thức trên vật, trên chính nó nên không thấy chính nó nữa.
Tâm trí huệ làm việc trên chính đối tượng, trên chính sự vật. Làm việc trên Bản tâm Phật tánh là đi xuyên qua hết bao lớp mây mờ của ngoại cảnh, thân giác, tư tưởng để đem tâm đến với chính bản thân sự vật. Cho nên bố thí là bố thí mà không có có người bố thí, giác tha là sự giác ngộ của tha nhân. Cho nên Địa Tạng Vương bồ tát mới có đại nguyện rằng:
"Ðịa ngục vị không, thệ bất thành Phật,
Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ-đề."
Có nghĩa là địa ngục chưa trống không, tôi thề không thành Phật; chúng sanh độ hết rồi, tôi mới chứng bồ-đề
Ngài lại nói: "Ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục."
Bồ Đề Đạt Ma cũng nói: "Mê là mê cái ngộ, ngộ là ngộ cái mê". Đó là trí huệ trên chính phiền não hay chính vạn vật của tư tưởng.
Sự làm việc trực tiếp và duy nhất trên vật trong khoa học cũng là sự khách quan tuyệt đối, là thấy sự vật như nó là, cũng chính là thực tại "đang là".
Nếu mình không thấy có sự chết thì có thể "làm chủ" được ý trong mọi phiền não hay vấn đề. Trí huệ ấy (chẳng qua) là sự “thấy biết” hay “tự sanh tự diệt” trực tiếp ngay trên chính đối tượng!
Khi giao phó mình cho Tâm Trí huệ, không còn một tư tưởng, thì thế giới vạn vật hiển hiện sinh động như là chính nó. Thấy sự vật như là chính nó, qua tấm gương của Tâm trí huệ, thì không có người thấy (và vật thấy), bởi bãn ngã đã đi vào vô ngã hay đồng một thể với vật.
Tâm trí huệ thể hiện qua nhẫn nhục hy sinh hay hiến dâng hết tâm hồn và thân mạng cho công việc, cho người, cho nghệ thuật ...nên Tâm có thể chuyển cảnh, xoay cảnh trí vào đất Tâm, là nơi bình đẳng của muôn vật. "Tâm phục khẩu phục" cũng là một hình ảnh của Tình Thương được phản chiếu trong phiền não, trong tha nhân, và muôn vật. Sự hy sinh hay hiến dâng trong tình yêu hay tình thương chỉ có nghĩa là đem đến giác ngộ, tâm phục khẩu phục hay thấu hiểu cho tha nhân như là chính mình vậy. Tình thương có thể chuyển hoá lòng người bởi sự nhập một, không còn có người cho và người nhận, số phận và cuộc sống của người cũng là của mình...
Nên khi chưa thật hiến dâng trọn vẹn và duy nhất hết tình yêu hay sống chết thì phiền não vẫn còn che lấp Tâm trí huệ.
Phật rằng chiến thắng mạnh mẽ nhất chính là chiến thắng bản thân, là bố thí thân mạng, tư tưởng và vật chất; là nhẫn nhục hay trì giới mà không có người nhẫn nhục trì giới.
Khi Tâm là vật, vừa là nó vừa không phải chính nó, im lặng mà chiếu soi, hướng nội song hành tĩnh lặng mà hướng ngoại soi chiếu như như thì dù muốn khởi niệm vọng tưởng cũng không thể đươc. Và Vạn Vật cũng chính là trí huệ thấy biết trước sự việc như là chính Nó. Hay nói cách khác,Vật mới có cùng cấp độ (level) để thay Tâm kiểm soát và làm chủ tư tưởng hành động như thực tế nó là.(Điều này giải thích vì sao con người lệ thuộc vật (chất) khi mà tâm còn chưa hoá thân vào vật, khi trí huệ vô ngã chưa khai mở).
Đức Phật 49 năm thuyết pháp không nói một lời.
Chỉ khi mà cuộc đời là mộng tưởng như trong giấc ngủ, thì tâm trí mới dừng nghỉ, Tâm trí huệ mới hiện tiền, vạn vật mới tĩnh lặng đồng một thể, cảnh trí mới như như chiếu soi vũ trụ. Cho nên Thiền sư thường nói cuộc đời là giấc mộng, và không có sự chết.
…
Vậy sự trở về của Ý là gì(?)
“Phàm chẳng phải trí thì chẳng biết cảnh, nếu chẳng có cảnh thì trí chẳng sanh. Trí sanh là biết cảnh mà sanh, biết cảnh là do trí sanh mà biết. Trí sanh mà biết thì biết không có cái bị biết (sở liễu). Biết cảnh mà sanh nên sanh không có cái hay sanh (năng sanh). Sanh không có cái hay sanh, tuy trí mà chẳng phải có. Biết mà không có cái bị biết, tuy cảnh mà chẳng phải không. Không tức chẳng không, có tức chẳng có, có không đều chiếu cả hai thì diệu ngộ hiển nhiên. Như lửa được củi càng thêm cháy mạnh, củi dụ như cảnh để phát sanh trí, lửa dụ cho diệu trí biết cảnh. Có lời rằng:
Đạt tánh không, chẳng trói buộc
Tuy duyên giả, không đắm trước
Hai cảnh có không đồng soi
Một tâm trung quán siêu vượt.
Nếu trí biết nơi cảnh tức là trí biết cảnh không, như mắt thấy hoa không là mắt biết hoa không. Nếu trí biết nơi trí, tức là trí biết trí không, như mắt thấy con mắt không là mắt biết mắt không. Trí tuy biết cảnh không và biết trí không, nhưng chẳng phải không trí biết cảnh. Cảnh không trí vẫn có. Trí biết cảnh không và trí không, nên không có cảnh nào trí chẳng biết, như con mắt biết hoa không và biết mắt không, nhưng chẳng phải không biết có mắt thấy hoa. Hoa không mắt vẫn có. Mắt biết hoa không và mắt không nên có hoa nào mà mắt chẳng biết.
Lại nữa, tất cả các pháp đều là nhân duyên giả dối, vì nhân duyên sanh nên đều không Tự tánh. Một pháp đã vậy, muôn pháp cũng vậy. Cảnh trí theo nhau thì đâu chẳng lặng. Vì sao? Vì pháp nhân duyên tánh không sai biệt. Nay đây ba cõi luân hồi, sáu đường lên xuống, tịnh uế khổ lạc, phàm Thánh sai khác đều do ba nghiệp, bốn nghi(1) sáu căn đối cảnh. Theo tình tạo nghiệp, quả báo chẳng đồng, thiện thì hưởng lạc, ác thì thọ khổ. Cho nên kinh nói: “Thiện ác là nhân, khổ lạc là quả.” Phải biết pháp không có tướng nhất định, tùy duyên tập hợp cấu thành, duyên chẳng phải là có ngã, cho nên gọi là Tánh không. Không nên chẳng phải khác, do đó muôn pháp đều Như. Vì thế kinh nói: “Sắc tức là không, bốn ấm kia cũng vậy.” Như vậy, đâu riêng gì loài phàm tục có duyên sanh, mà hàng Tam thừa Thánh quả cũng từ duyên có. Thế nên kinh nói: “Phật chủng từ duyên khởi.” Do đó muôn cơ tụ hợp, người đạt thì không đâu chẳng phải đạo tràng; sắc tượng vô biên, người ngộ rồi thì không có gì chẳng phải Bát-nhã. Cho nên kinh nói: “Vì sắc vô biên nên biết Bát-nhã cũng vô biên.” Vì sao? Vì cảnh chẳng phải trí thì chẳng biết, trí chẳng phải cảnh thì chẳng sanh. Trí sanh thì biết cảnh mà sanh, biết cảnh thì trí sanh mà biết. Trí sanh mà biết, biết không có cái bị biết (sở liễu). Biết cảnh mà sanh, sanh không có cái hay sanh (năng sanh). Sanh không có cái hay sanh thì nội trí lặng lặng. Biết không có cái bị biết thì ngoại cảnh như như. Như và lặng không sai khác thì cảnh và trí hợp nhất, muôn lụy đều hết, diệu chỉ hãy còn. Cho nên kinh nói: “Bát-nhã không biết mà không cái gì chẳng biết.” Như vậy diệu chỉ chẳng phải biết, không biết mà biết vậy.” ( Bài tụng về Quán Tỳ-Bà-Xá-Na - Huyền Giác Thiền sư - Thích Định Huệ dịch Việt ).
…
Thử tưởng tượng hay khám phá một điều gì mới lạ chưa từng thấy biết. Giả sử đó là trận đấu của một “võ sỉ mộng du” (mộng du là trạng thái tâm lý có thể đi lại hay sinh hoạt trong lúc vẫn đang còn ngủ). Có một điều chắc chắn rằng là anh ta không cần biết mình đang đấu với ai, dù cho đó là Muhammad Ali hay Bruce Lee cũng như bất kỳ đối thủ vô danh hay hữu danh nào. Anh ta chỉ nhìn thế giới hay con người bằng trí vô phân biệt của vô thức nên không bao giờ đặt tên cho đối tượng, do đó không có tâm sợ hãi. Bao nhiêu lớp mây mờ của tư tưởng ý thức, trần cảnh tan biến. Thân xác anh ta vẫn còn ngủ nên có thể thư giản đến tận các ngón tay chân. Vô thức là sự nghỉ ngơi và vắng bặt tuyệt đối của ý thức. Vô thức mà vẫn ý thức, hay sự quân bình Tâm thức, trong hoàn cảnh này, chính là cái biết tỉnh thức và vô phân biệt, nên đã làm cho anh ta không còn thấy có đối thủ, trong khi mà ý thức đang tịch diệt hay nghỉ ngơi tuyệt đối. Kết quả hay tiến trình xảy ra là thể hiện từ Tâm vô phân biệt và không sợ hãi, đối thủ như được cộng hưởng một “trường lực” không thấy biết bằng mắt thường này, nên hoặc là sẽ bị quyến rũ hay chinh phục bởi tâm, hoặc là tê liệt hết mọi ý chí. Từ sự "cộng nghiệp" của ý thức đang nghỉ ngơi thư giản và vô phân biệt (tỉnh thức trên vô thức), anh ta có thể điều khiển hay biết được trọn vẹn thế giới ý thức trước khi mà nó sinh khởi. Nghĩa là khi anh ta chưa cần nghĩ đến ngón đòn thì lưỡi kiếm của anh ta đã tới sát ngay đối thủ... nếu như không phải là Tình thương hay Tâm ý vô phân biệt của anh ta làm tê liệt hoặc chinh phục đối phương. (Thế giới ta bà phiền não, mình và tư tưởng, phân biệt và đối kháng… cũng “tương tự”.)
Không đặt tên cho đối tượng nghĩa là không có ý thức phân biệt, là Tâm không sợ hãi, là Ý tịch diệt mà thường chiếu soi.
Thiền sư Huyền Giác nói: "Vì Xa-ma-tha (chỉ) tuy tịch mà thường chiếu, vì Tỳ-bà-xá-na (quán) tuy chiếu mà thường tịch, vì Ưu-tất-xoa (thiền) chẳng phải chiếu chẳng phải tịch. Vì chiếu mà thường tịch nên nói tục mà tức chân, vì tịch mà thường chiếu nên nói chân mà tức tục, chẳng phải tịch chẳng phải chiếu nên ngậm miệng ở Tỳ-da."
“Không có trí huệ cũng không có chứng đắc, Tâm không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng…”(Bát Nhã Tâm Kinh).
Một đứa bé thật là đáng yêu, nhất là khi nó đang vào giấc ngủ, khi mà Phật tánh của nó nổi bật lên trong sự tĩnh lặng của Tâm. Phải chăng cái nhìn thế giới của con trẻ “qua giấc ngủ” đã cộng hưởng trong ta, cái thế giới huyễn mộng đó trong giây phút này trở nên hồn nhiên, đơn thuần, chân thật, đáng yêu (?)
Chuyện kể về một người hầu cận cho một lãnh chúa ờ Nhật Bản. Anh ta từ nhỏ rất yếu đuối, hay bịnh tật, cho nên anh ta luôn chí nguyện vượt qua sự sợ hãi và cái chết. Khi được làm hầu cận cho một lãnh chúa, anh ta đã tìm đến một người Thầy lỗi lạc về kiếm pháp để học kiếm. Quan sát phong thái người học trò, ông Thầy chợt hỏi:"Chẳng hay ngươi đã học kiếm ở đâu?" . Anh ta đáp:" Tôi chưa bao giờ học kiếm". Không tin, người Thấy hỏi lại:" Vậy Thầy của ngươi là ai?". Anh ta cũng vẫn trả lời như cũ. Ngạc nhiên, vị Thầy lại hỏi: " Vậy chẳng hay ngươi đã có tâm nguyện gì?". Anh ta đáp: "Tôi luôn luôn tâm nguyện là không bao giờ biết sợ hãi, để có thể làm một võ sỉ samurai". Người thầy đáp: "Quả thật ta đoán không lầm, dù ngươi chưa học kiếm nhưng ngươi cũng có thể xem như đã là bật thầy về kiếm pháp".
Có một con voi rất hung dữ mà không một ai đã có thể khuất phục được nó. Khi gặp Đức Phật, voi rống thét và hung tợn lên như muốn chà nát Ngài. Không chút sợ hãi, Đức Phật nhìn nó với cái nhìn trìu mến. Thật kỳ lạ, trường lực của Tâm qua ánh mắt không hề sợ hãi và chan chứa tình thương như đã lôi con voi dữ vào một không gian như ảo như thực, làm cho bao nhiêu bản tánh hung hăng của nó tự nhiên đột nhiên tàn rụi. Và Nó ngoan ngoãn vui vẻ phủ phục qui Tâm dưới chân Người.
"Này Angulimala! Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chính anh mới là người chưa dừng lại." - Đức Phật nói với Angulimala khi tên đồ tể này đuổi theo giết Phật cho đủ số 100 người.
(Có lẽ hắn ta cũng đã “rụng rời” tay chân, mất hết “ý chí”, nên không thể đuổi kịp Đức Phật trong “không gian siêu thực” của Tâm…)
Tâm Ý vô phân biệt như một trường lực vô hình vi tế nên có thể dễ dàng lọt qua mọi màng lưới hữu hình thô thiển của ý thức phân biệt, thản nhiên xuyên qua mọi tính toán của tư tưởng, điềm nhiên thoát qua được mọi mê mờ của tham sân si, tự tại đi qua lưới trời lồng lộng của nghiệp duyên nhân quả... Tất cả đó là sự hồn nhiên vô phân biệt đến mức không định danh bất kỳ một ai, khái niệm gì, nên không sợ hãi và sống chết là xa lạ như chưa từng có bao giờ...
Thiện Võ.
Tin tức cùng thời gian
| CHÚNG TA ĐANG ĐI TÌM GÌ ? | May 03, 2012 |
| Quay Đầu Dừng Lại Là Bờ | May 03, 2012 |
| Ý Nghĩa Lá Cờ Phật Giáo | May 03, 2012 |
| VỀ TRÍ NHỚ | Apr 20, 2012 |
| Triết Lý Về Tồn Tại | Apr 20, 2012 |
| Sự Tự Hoàn Thiện | Nov 21, 2011 |
| Sự Trở Về Của Ý | Nov 21, 2011 |
| Dịch chuyển đêm | Nov 10, 2011 |
| NHẬN BIẾT: CHÌA KHOÁ SỐNG TRONG CÂN BẰNG | Nov 03, 2011 |
| LỤC DIỆU PHÁP MÔN (SÁU PHƯƠNG PHÁP HUYỀN DIỆU) | Nov 03, 2011 |




